• Video

  • Album ảnh

Tổng hợp một số điểm mới, đáng chú ý Luật Phòng, Chống tham nhũng năm 2018

06/09/2019

Luật phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2018 được thông qua tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV và chính thức có hiệu lực từ ngày 1-7-2019. Luật gồm có 10 chương, 96 điều. Luật PCTN năm 2018 có nhiều điểm mới , đáng chú ý so với Luật PCTN năm 2005, đó là:

Một là, Về phạm vi điều chỉnh của Luật

So với Luật PCTN 2005, Điều 1, Luật PCTN 2018 có sự điều chỉnh đáng kể. Theo đó, Phạm vi điều chỉnh của Luật quy định: “Luật này quy định về phòng ngừa, phát hiện tham nhũng; xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng”, quy định như vậy để tạo cơ sở pháp lý mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật ra khu vực ngoài nhà nước bằng các quy định cụ thể khác của Luật PCTN năm 2018 như: 03 hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước (khoản 2 Điều 2); về trách nhiệm của doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước (khoản 2 Điều 4)… Chuyển quy định về khái niệm tham nhũng sang khoản 1 Điều 3 về giải thích từ ngữ. sửa đổi và chuyển quy định việc liệt kê về người có chức vụ, quyền hạn sang khoản 2 Điều 3 về giải thích từ ngữ.

Hai là, về các hành vi tham nhũng

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 chỉ quy định tham nhũng ở khu vực công, còn Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 Quy định cụ thể về 12 hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước và 03 hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước.Đối với 12 hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước, giữ như quy định của Luật PCTN năm 2005, là những hành vi do người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước thực hiện.

Đối với hành vi tham nhũng khu vực ngoài nhà nước, để bảo đảm phù hợp với các quy định của Bộ Luật Hình sự (BLHS), chỉ quy định các hành vi tham nhũng do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thực hiện, bao gồm 03 hành vi: tham ô tài sản; nhận hối lộ; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi.

Ba là, Tăng cường các biện pháp phòng ngừa tham nhũng

Nội dung phòng ngừa tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị được quy định từ Điều 9 đến Điều 51 của Luật PCTN với nhiều nội dung mới, đáng chú ý:

Về công khai, minh bạch về tổ chức và hoạt động của cơ quan, đơn vị:

Loại bỏ các quy định về công khai, minh bạch trong từng lĩnh vực cụ thể về quản lý nhà nước, bởi các đạo luật chuyên ngành đã quy định đầy đủ và chặt chẽ cả về nội dung và trình tự, thủ tục công khai, minh bạch trong từng lĩnh vực cụ thể. Đồng thời, tiếp thu, kế thừa có sửa đổi, bổ sung các quy định chung của Luật PCTN năm 2005 về nguyên tắc, nội dung, hình thức công khai, minh bạch; quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức; quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cá nhân; trách nhiệm giải trình; công khai báo cáo hằng năm về phòng, chống tham nhũng; đồng thời, bổ sung nhiều quy định mới về trách nhiệm thực hiện việc công khai, minh bạch (Điều 12); Họp báo, phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí (Điều 13) và về tiêu chí đánh giá về công tác phòng, chống tham nhũng (Điều 17). Trong đó:

Về trách nhiệm giải trình: Điều 15 Quy định cụ thể về trách nhiệm giải trình là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền làm rõ thông tin, giải thích kịp thời, đầy đủ về quyết định, hành vi của mình trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân bị tác động trực tiếp bởi quyết định, hành vi đó. Người thực hiện trách nhiệm giải trình là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc người được phân công, người được ủy quyền hợp pháp để thực hiện trách nhiệm giải trình. Đồng thời, Luật giao cho Chính phủ quy định chi tiết về trách nhiệm giải trình.

Về Báo cáo công tác PCTN và tiêu chí đánh giá về công tác PCTN: các cơ quan nhà nước có trách nhiệm báo cáo, công khai báo cáo về công tác PCTN theo đúng các yêu cầu về nội dung (khoản 4 Điều 16), tiêu chí đánh giá về công tác PCTN (Điều 17); trong đó, hằng năm,VKSND cấp tỉnh và VKSND cấp huyện có trách nhiệm phối hợp với UBND cùng cấp trong việc xây dựng báo cáo về công tác PCTN ở địa phương. Đây là quy định mới, xuất phát từ tầm quan trọng của việc đánh giá, đo lường về thực trạng tham nhũng và công tác PCTN, góp phần xác định về trọng tâm và các biện pháp phù hợp để giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả đấu tranh PCTN.

Về xây dựng và thực hiện định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong cơ quan, tổ chức, đơn vị:

Kế thừa Luật PCTN năm 2005, chỉ quy định mang tính nguyên tắc về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong khu vực nhà nước trong việc ban hành và thực hiện các quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ và coi đây là biện pháp phòng ngừa tham nhũng trong khu vực nhà nước, tránh chồng chéo với các quy định khác của pháp luật hiện hành. Trong đó:

Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm xây dựng, ban hành quy định và công khai quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ; thực hiện và công khai kết quả thực hiện quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ.

Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức, đơn vị khác có sử dụng tài chính công, hướng dẫn áp dụng hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, ban hành, công khai định mức, tiêu chuẩn, chế độ áp dụng trong tổ chức, đơn vị mình, thực hiện và công khai kết quả thực hiện quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ đó.

Cơ quan, tổ chức, đơn vị, có trách nhiệm kiểm tra, thanh tra việc chấp hành quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ và xử lý kịp thời người có hành vi vi phạm.

Người có hành vi vi phạm quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật và hoàn trả phần giá trị mình sử dụng hoặc cho phép sửa dụng trái quy định (Điều 94, khoản 2 Điều 19…).

Về thực hiện quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị:

Luật PCTN năm 2018 tập trung quy định cụ thể về những việc mà người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị không được làm; thẩm quyền ban hành quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tặng quà và nhận quà tặng và bổ sung quy định mới về kiểm soát xung đột lợi ích. Trong đó:

Về quy tắc ứng xử: Khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, người có chức vụ, quyền hạn phải thực hiện quy tắc ứng xử, bao gồm các chuẩn mực xử sự là những việc phải làm hoặc không được làm phù hợp với pháp luật như: không được nhũng nhiễu trong giải quyết công việc; không được thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác; Không được tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết; sử dụng trái phép thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị… (Điều 20) nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích và các hành vi tham nhũng có thể xảy ra; đồng thời, có dẫn chiếu đến các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Cán bộ, công chức và các luật có liên quan để tránh chồng chéo, trên cơ sở có chỉnh lý về mặt kỹ thuật để đảm bảo tính hợp lý.

Về tặng quà và nhận quà tặng: Kế thừa Luật PCTN năm 2005, Luật PCTN năm 2018 đã quy định cụ thể hơn về việc tặng quà và nhận quà (Điều 22). Theo đó: Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được sử dụng tài chính công, tài sản công làm quà tặng, trừ trường hợp tặng quà vì mục đích từ thiện, đối ngoại và trong trường hợp cần thiết khác theo quy định của pháp luật; Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình.  Luật cũng giao cho Chính phủ quy định chi tiết về các nội dung trên.

Về kiểm soát xung đột lợi ích: Khoản 8 Điều 3 Luật PCTN năm 2018 về giải thích từ ngữ đã bổ sung quy định mới, cụ thể về khái niệm xung đột lợi ích: Là tình huống mà trong đó lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn hoặc người thân thích của họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Bên cạnh đó, Điều 23 Luật PCTN năm 2018 quy định cụ thể về trách nhiệm phát hiện, báo cáo và việc xem xét, áp dụng một trong các biện pháp xử lý xung đột lợi ích như: Giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích (điểm a khoản 3); đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích (điểm b khoản 3); tạm thời chuyển người có xung đột lợi ích sang vị trí công tác khác (điểm c khoản 3). Đồng thời, giao Chính phủ quy định chi tiết về kiểm soát xung đột lợi ích (khoản 4).

Về chuyển đổi vị trí công tác của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị:

Kế thừa quy định của Luật PCTN năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, Luật PCTN năm 2018 tiếp tục quy định nguyên tắc chuyển đổi vị trí công tác, vị trí công tác (Điều 24); vị trí công tác và thời hạn phải định kỳ chuyển đổi, kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác (Điều 25) và quy định cụ thể về Kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác. Trong đó:

Về thời hạn định kỳ chuyển đổi, Luật PCTN năm 2018 giữ quy định của pháp luật hiện hành là 02 năm đến 05 năm theo đặc thù của từng ngành, lĩnh vực và không quy định thời hạn chuyển đổi đối với các trường hợp đặc biệt.

Để bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị, Luật PCTN năm 2018 quy định cụ thể việc chuyển đổi vị trí công tác đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ có một vị trí phải định kỳ chuyển đổi công tác sẽ do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng người có chức vụ, quyền hạn đề nghị với cơ quan có thẩm quyền chuyển đổi.

Định kỳ hằng năm, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải ban hành và công khai kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác theo thẩm quyền quản lý cán bộ. Kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác phải nêu rõ mục đích, yêu cầu, trường hợp cụ thể phải chuyển đổi vị trí công tác, thời gian thực hiện chuyển đổi, quyền, nghĩa vụ của người phải chuyển đổi vị trí công tác và biện pháp tổ chức thực hiện.

Về cải cách hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý và thanh toán không dùng tiền mặt:

Luật PCTN năm 2018, tiếp tục quy định mang tính nguyên tắc về một số biện pháp phòng ngừa tham nhũng như: cải cách hành chính (Điều 27), ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý (Điều 28) và thanh toán không dùng tiền mặt (Điều 29). Trong đó:

Về cải cách hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý: đây là các biện pháp rất quan trọng để phòng ngừa tham nhũng nên kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành, Luật PCTN năm 2018 quy định nguyên tắc để Chính phủ, các ngành, các cấp có trách nhiệm tăng cường thực hiện trong thời gian tới; Về thanh toán không dùng tiền mặt quy định: Các cơ quan, tổ chức đơn vị phải thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt đối với các khoản thu chi cụ thể, đồng thời giao Chính phủ áp dụng biện pháp tài chính, công nghệ để giảm việc sử dụng tiền mặt trong các giao dịch.

Về tăng tính minh bạch và kiểm soát tài sản, thu nhập

Luật PCTN năm 2018 quy định cụ thể về 08 hệ thống cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập theo từng ngành, lĩnh vực; trong đó, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra các bộ, ngành, Thanh tra tỉnh kiểm soát tài sản, thu nhập của những người thuộc diện kê khai công tác tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương.

Luật đã quy định mở rộng đối tượng, bổ sung thêm một số loại tài sản, thu nhập phải kê khai tài sản, quy định rõ, cụ thể hơn thời điểm kê khai và việc công khai tài sản, thu nhập. Nếu như Luật PCTN năm 2005 quy định chỉ có một số cán bộ, công chức mới phải kê khai tài sản, thu nhập thì nay đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập đã được mở rộng ra rất nhiều, bao gồm: Cán bộ, công chức; Sĩ quan Công an nhân dân, Sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp; Người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử Hội đồng nhân dân.

Ngoài phải kê khai các loại tài sản, thu nhập như quy định trước đây, là: Nhà, quyền sử dụng đất; Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và các loại tài sản khác mà giá trị của mỗi loại từ 50 triệu đồng trở lên; Tài sản, tài khoản ở nước ngoài; Thu nhập phải chịu thuế theo quy định của pháp luật, Luật PCTN năm 2018 yêu cầu các đối tượng nêu trên còn phải kê khai thêm công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng. Đồng thời, các đối tượng còn phải kê khai cả tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai. Theo Khoản 2 Điều 36, người có nghĩa vụ kê khai phải thực hiện kê khai bổ sung khi có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên. Trường hợp có biến động tài sản như trên mà không giải trình hợp lý về nguồn gốc tài sản, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có trách nhiệm xác minh. Người có nghĩa vụ kê khai phải giải trình về tính trung thực, đầy đủ, rõ ràng của bản kê khai, nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm. Đồng thời, có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xác minh tài sản, thu nhập khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật.

Về thời điểm kê khai tài sản, thu nhập, nếu như trước đây, Luật PCTN năm 2005 không đề cập đến phương thức và thời điểm kê khai thì nay, Luật PCTN năm 2018 quy định việc kê khai tài sản thu nhập được thực hiện theo các phương thức như: Kê khai lần đầu áp dụng đối với cán bộ, công chức; Sĩ quan; Người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên.  Kê khai bổ sung áp dụng với người có nghĩa vụ kê khai có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên. Việc kê khai hoàn thành trước ngày 31/12 của năm có biến động tài sản. Kê khai hàng năm áp dụng với người giữ chức vụ từ Giám đốc Sở và tương đương trở lên; Người làm công tác cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị khác theo quy định của Chính phủ. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31/12.

Luật Luật Phòng, chống tham nhũng năm năm 2018 cũng bổ sung căn cứ xác minh theo kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập hằng năm đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được lựa chọn ngẫu nhiên; quy định cụ thể về thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị xác minh tài sản, thu nhập; nội dung xác minh tài sản, thu nhập; trình tự xác minh tài sản, thu nhập và xử lý hành vi kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc tài sả, thu nhập tăng thêm không trung thực.

Bốn là, phát hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị

Kế thừa quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 tiếp tục quy định về công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước; công tác tự kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị; có bổ sung quy định kiểm tra hoạt động chống tham nhũng trong cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân tại Điều 57; bổ sung quy định thẩm quyền của cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước trong thanh tra, kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng tại Điều 61; xử lý vụ việc có dấu hiệu tham nhũng được phát hiện qua hoạt động thanh tra, kiểm toán tại Điều 62; xử lý vi phạm trong hoạt động thanh tra, kiểm toán tại Điều 64.

Năm là, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị

Luật PCTN năm 2018 đã quy định thành một chương riêng và sửa đổi, bổ sung nhằm cụ thể hoá và đề cao vai trò của người đứng đầu. Theo đó, quy định nội dung trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng (Điều 70); quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc áp dụng biện pháp tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác đối với người có hành vi vi phạm (Điều 71); quy định trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do cơ quan mình quản lý, phụ trách (Điều 72 và Điều 73).

Sáu là, xử lý tham nhũng và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng

Đây là chương có nhiều nội dung mới được bổ sung, thể hiện sự nghiêm minh trong xử lý tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tăng cường hiệu quả thực thi, hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng. Đối với xử lý tham nhũng, Luật PCNT năm 2018 đã quy định rõ các nguyên tắc về việc xử lý tham nhũng (Điều 92, Điều 93). Đối với xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã bổ sung quy định tại mục 2 Chương IX. Theo đó, Điều 94 liệt kê các hành vi  khác vi phạm pháp luật về PCTN và quy định mang tính nguyên tắc xử lý đối với các hành vi này; Điều 95 quy định xử lý hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước.

Xuất phát từ vai trò quan trọng của công tác phòng, chống tham nhũng; trên cơ sở khắc phục những tồn tại, hạn chế của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2015, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã tạo hành lang pháp lý hoàn thiện, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn về việc giải quyết vấn đề phòng, chống tham nhũng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước trong thời kỳ đổi mới.

Luật PCTN năm 2018 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2019. Luật PCTN số 55/2005/QH11 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 01/2007/QH12 và Luật số 27/2012/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật PCTN năm 2018 có hiệu lực thi hành (Nội dung đầy đủ Luật PCTN năm 2018 đính kèm)./.

Nguyễn Văn Đức
Phó Chánh thanh tra Sở

Các tin đã đưa ngày:
Số lượt truy cập :