Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2019

25/10/2019

Tháng 10/2019, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục phát triển ổn định; sản xuất nông nghiệp, đã cơ bản thu hoạch xong vụ mùa và tiến hành gieo trồng cây vụ đông; Chỉ số sản xuất công nghiệp, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu đạt được nhiều kết quả tích cực; An ninh trật tự xã hội trên địa bàn ổn định. Kết quả một số ngành, lĩnh vực chủ yếu như sau:

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

- Trồng trọt: Hiện nay, bà con nông dân trong tỉnh đã cơ bản thu hoạch xong vụ Mùa và khẩn trương gieo trồng cây vụ Đông. Tính đến 15/10/2019 toàn tỉnh đã gieo trồng được 11.738 ha, bằng 91,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngô 5.560 ha, bằng 84,64%; khoai lang 1.222 ha, bằng 99,43%; đậu tương 668 ha, bằng 77,56%; lạc 145 ha, bằng 96,87%; rau các loại 3.118 ha, tăng 2,21% so với cùng kỳ... Diện tích gieo trồng các loại cây màu vụ Đông 2019-2020 tiếp tục giảm so với cùng kỳ do sản xuất vụ Đông chi phí lớn, phải sử dụng nhiều công lao động, hiệu quả kinh tế không cao bà con chuyển sang làm các ngành nghề phi nông nghiệp cho thu nhập cao hơn nên nhiều chân ruộng bị bỏ không.

- Chăn nuôi: Chăn nuôi gia cầm trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay phát triển khá tốt, không có dịch bệnh lớn xảy ra, các sản phẩm sản xuất ra có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định nên người dân yên tâm tập trung phát triển sản xuất. Đồng thời, tháng Mười cũng là tháng các hộ chăn nuôi vào đàn để chuẩn bị sản phẩm cung cấp cho thị trường vào dịp Tết Nguyên đán nên số lượng đầu con tăng khá so với cùng kỳ.

Tình hình chăn nuôi lợn vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của bệnh Dịch tả lợn Châu phi (DTLCP) diễn biến phức tạp đã gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi. Mặc dù hiện nay giá lợn hơi đã có mức tăng cao nhưng do tâm lý lo ngại dịch bệnh bùng phát trở lại mà nhiều hộ chăn nuôi vẫn chưa dám tái đàn. Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã ban hành văn bản chỉ đạo các địa phương trên địa bàn tỉnh tiếp tục phòng, chống bệnh DTLCP và cơ cấu lại ngành chăn nuôi.

Số lượng đàn gia súc, gia cầm tại thời điểm 01/10/2019 như sau: Đàn trâu có 17.882 con, giảm 1,31% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò 109.058 con, giảm 1,75% (trong đó có 12.550 con bò sữa, tăng 8,19%); đàn lợn (không kể lợn con theo mẹ) 455.250 con, giảm 28,03%; đàn gia cầm 11.050 nghìn con, tăng 5,38% so với cùng thời điểm năm 2018. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 98.920 tấn, giảm 9,02%; trong đó, thịt lợn 65.124 tấn, giảm 14,62% so với cùng kỳ.

- Lâm nghiệp: Đến nay, các đơn vị sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh trồng đ¬ược 700 ha rừng trồng mới tập trung, tăng 1,45% so với cùng kỳ; trong đó, rừng sản xuất 629 ha, còn lại là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Công tác bảo vệ, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng được quan tâm thực hiện với 9.631 ha rừng hiện có; khoanh nuôi tái sinh, phục hồi rừng được Vườn Quốc gia Tam Đảo duy trì thường xuyên với diện tích 160 ha, số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.600 nghìn cây, tăng 1,2% so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác mười tháng đầu năm ước đạt 33.237 m3, tăng 3,71% so với cùng kỳ; sản lượng củi khai thác 44.142 Ste, tăng 1,66%.

- Thuỷ sản: Sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh mười tháng đầu năm phát triển ổn định, công tác phòng chống dịch bệnh, ứng phó thiên tai được người dân quan tâm thực hiện đồng bộ với nhiều giải pháp hiệu quả. Cùng với đó, giá các sản phẩm thủy sản luôn ở mức khá, chất lượng thủy sản ngày càng được nâng cao, đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường và đem lại thu nhập cho người nuôi. Diện tích nuôi trồng thủy sản mười tháng đầu năm ước đạt 6.801 ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản đạt 18.434 tấn, tăng 4,89% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng khai thác đạt 1.684 tấn, giảm 1,59%; sản lượng nuôi trồng đạt 16.750 tấn, tăng 5,59% so với cùng kỳ năm trước.

2. Sản xuất công nghiệp

2.1. Chỉ số sản xuất

Tháng Mười và mười tháng đầu năm 2019, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt kết quả khá so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ chốt, thúc đẩy tăng trưởng chung và duy trì ở mức tăng trưởng hai con số; ngành sản xuất và phân phối điện bảo đảm đáp ứng tốt cho hoạt động sản xuất và sử dụng của người dân. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng Mười tăng 8,45% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 23,75%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,29%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 20,97%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 28,87%.

Tính chung mười tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 11,67%  so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 14,57% của cùng kỳ năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng 4,24% và 10,99% của cùng kỳ năm 2016 và năm 2017. Trong đó: Ngành sản xuất linh kiện điện tử tiếp tục dẫn đầu với mức tăng 46,23%; ngành sản xuất thiết bị điện tăng 27,54%; ngành sản xuất kim loại tăng 26,73%; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim tăng 19,91%… Tuy nhiên  vẫn có 6/24 ngành công nghiệp cấp II của tỉnh có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành sản xuất xe có động cơ giảm 6,78%, do xe sản xuất trong nước tiếp tục phải cạnh tranh với thị trường xe nhập khẩu hiện nay đang rất dồi dào về nguồn cung, giá thành ngày càng giảm, vì vậy hai doanh nghiệp Toyota va Honda chuyển dần sang nhập khẩu; ngành sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 13,27%, do thị trường đang ở mức bão hòa; ngành sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 13,51%; ngành sản xuất trang phục giảm 3,23%... Các ngành công nghiệp còn lại phát triển ổn định.

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tháng 10 năm 2019 (%)

 

Ước tính tháng 10/2019 so với tháng trước

Ước tính tháng 10 năm 2019 so với cùng kỳ năm trước

10 tháng đầu năm 2019 so với cùng kỳ năm trước

Toàn ngành công nghiệp

102,22

108,45

111,67

Khai khoáng

103,97

76,25

90,47

Công nghiệp chế biến, chế tạo

102,23

108,29

111,65

Sản xuất và phân phối điện

101,23

120,97

115,67

Cung cấp nước và xử lý rác thải

100,86

128,87

115,78

 

2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Hầu hết sản lượng sản phẩm công nghiệp chủ yếu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng Mười dự kiến đều có mức tăng khá so với tháng trước và so với cùng kỳ. Tính chung mười tháng đầu năm 2019, ngoài sản lượng ô tô giảm 6,78%, xe máy giảm 13,27% và quần áo các loại giảm 2,93%, các nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu còn lại của tỉnh đều có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2018 như: Doanh thu từ sản xuất linh kiện điện tử đạt 77.955 tỷ đồng, tăng 46,23%; giày thể thao đạt 6.006 nghìn đôi, tăng 24,21%; gạch ốp lát 125.124 nghìn m2, tăng 19,91%; máy điều hòa không khí 20.896 cái, tăng 37,75%; điện thương phẩm 5.076 triệu kwh, tăng 15,67%; nước uống được 21.641 nghìn m3, tăng 15,64%...

2.3. Chỉ số sử dụng lao động

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng Mười tăng 1,27% so với tháng trước và tăng 6,37% so với cùng kỳ. Tính chung mười tháng đầu năm, chỉ số sử dụng lao động tăng 0,95% so với cùng kỳ; trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 6,61%, doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 4,66%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,32% so với cùng kỳ.

2.4. Chỉ số tiêu thụ, tồn kho

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Mười tăng 0,52% so với tháng trước và giảm 8,12% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng đầu năm, nhiều ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao như: ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 30,85%, ngành sản xuất kim loại tăng 23,91%, ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 21,81%, ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 20,38%, ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim tăng 19,16%... Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: ngành sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 13,61%, ngành sản xuất xe có động cơ giảm 7,17%... Các ngành còn lại có biến động nhẹ.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Mười năm nay giảm 4,04% so với tháng trước và tăng 26,20% so cùng kỳ năm trước. Hầu hết các ngành đều có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ; trong đó, ngành sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 41,47%, ngành sản xuất kim loại tăng 36,64%, ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 20,08%...

3. Đầu tư, xây dựng

Trong tháng, giải ngân vốn đầu tư công được đẩy mạnh thực hiện, UBND tỉnh đã yêu cầu các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố tăng cường phối hợp, tháo gỡ khó khăn, giải quyết vướng mắc trong triển khai các công trình, dự án, nhất là các công trình, dự án trọng điểm; theo dõi chặt chẽ tình hình giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công của từng dự án, kịp thời đề xuất điều chỉnh cho phù hợp tránh để dồn vào cuối năm. Kết quả thực hiện vốn đầu tư trong tháng đạt khá: Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý thực hiện ước đạt 626,4 tỷ đồng tăng 4,76% so với tháng trước và tăng 1,08% so cùng kỳ. Trong đó, nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh là 441,0 tỷ đồng, tăng 3,68%; vốn ngân sách cấp huyện là 146,65 tỷ đồng, tăng 8,80%; vốn ngân sách cấp xã là 38,79 tỷ đồng, tăng 2,52% so với tháng trước. Tính chung mười tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 4.947,1 tỷ đồng, tăng 3,31% và bằng 79,38% so với kế hoạch năm.

4. Thương mại, dịch vụ và giá cả

4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng

Tháng 10/2019, tình hình kinh doanh thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định và phát triển khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong tháng ước đạt 4.510,1 tỷ đồng, tăng 13,69% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 42.670,5 tỷ đồng, tăng 9,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng 10/2019 ước đạt 3.895 tỷ đồng, tăng 2,27% so với tháng trước và tăng 14,25 % so với cùng kỳ năm trước. Trong 12 nhóm ngành hàng, nếu so với tháng trước chỉ có 2 nhóm có mức doanh thu giảm là nhóm hàng may mặc giảm 0,47% và nhóm vật phẩm, văn hóa, giáo dục giảm 3,17% chủ yếu nhưng so với cùng kỳ năm trước, thì cả 12 nhóm ngành hàng đều có mức doanh thu tăng khá, một số nhóm ngành hàng có mức tăng khá cao như: Nhóm hàng may mặc tăng 19,76%; nhóm lương thực, thực phẩm tăng 18,38%; nhóm nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 17,64%; nhóm vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 16,11%; nhóm hàng gỗ và vật liệu xây dựng tăng 13,01% so với cùng kỳ... Lũy kế mười tháng, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 36.707 tỷ đồng, tăng 9,87% so với cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng Mười ước đạt 350,2 tỷ đồng, giảm 1,73% so với tháng trước do thời điểm này đã kết thúc mùa du lịch, nghỉ mát, so cùng kỳ năm trước tăng 8,18%. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 30,0 tỷ đồng, giảm 4,6% so tháng trước và tăng 8,21% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 311,6 tỷ đồng, giảm 1,35% so tháng trước và tăng 8,01% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu du lịch lữ hành đạt 8,6 tỷ đồng, giảm 4,77% so tháng trước và tăng 14,42% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế mười tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành đạt 3.424 tỷ đồng, tăng 9,62% so với cùng kỳ năm trước.

- Doanh thu các ngành dịch vụ khác tháng Mười ước đạt 264,9 tỷ đồng tăng 1,97% so với tháng trước và tăng 13,22% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế mười tháng đầu năm ước đạt 2.539,5 tỷ đồng, tăng 10,13% so với cùng kỳ năm trước.

4.2. Vận tải hành khách và hàng hoá

Để đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của nhân dân, ngành Giao thông Vận tải đã chỉ đạo các đơn vị, doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải tăng cường công tác đầu tư, nâng cấp các phương tiện vận tải, nâng cao chất lượng dịch vụ; tuân thủ nghiêm quy định về giá, lịch trình, các điểm dừng đỗ đón trả khách, quy định về số lượng hành khách, hàng hóa vận chuyển trên mỗi chuyến xe; tăng cường công tác quản lý đối với loại hình kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô đưa đón học sinh và công nhân; khuyến khích phát triển vận tải hành khách công cộng, vận tải hàng hóa nhằm phục vụ tốt nhu cầu của người dân cũng như sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.

Tổng doanh thu vận tải tháng Mười ước đạt 397,2 tỷ đồng, tăng 2,37%  so tháng trước. Trong đó, vận tải hành khách đạt 86,7 tỷ đồng tăng 2,52%; vận tải hàng hoá đạt 299,6 tỷ đồng, tăng 2,26% so với tháng trước. Tính chung mười tháng đầu năm, tổng doanh thu vận tải đạt 3.696,4 tỷ đồng, tăng 9,0% so cùng kỳ.

5. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

5.1. Tình hình thu, chi ngân sách Nhà nước

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tiếp tục duy trì tiến độ khả quan, ngành Thuế đã tăng cường quản lý thu ngân sách nhà nước, đảm bảo kế hoạch thu ở tất cả các lĩnh vực gắn với siết chặt kỷ luật tài chính-ngân sách nhà nước. Thực hành tiết kiệm chống lãng phí, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên; không chi những nhiệm vụ chưa cần thiết.

Theo số liệu của Kho bạc Nhà nước,tổng thu ngân sách trên địa bàn tính đến 22/10/2019 ước đạt 27.438,4 tỷ đồng, bằng 98,72% dự toán. Trong đó, thu nội địa đạt 23.914 tỷ đồng, bằng 98,64% dự toán; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 3.483 tỷ đồng, bằng 98,12% dự toán.  Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn đến 22/10/2019 đạt 130.343 tỷ đồng, trong đó chi thường xuyên đạt 7.032 tỷ đồng, chi đầu tư phát triển đạt 6.263 tỷ đồng.

5.2. Hoạt động ngân hàng, tín dụng

Tháng 10/2019, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, lãi suất huy động phổ biến ở mức 4,5% đến 7,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên. Lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6% đến 9%/năm; các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8% đến 10,5%/năm. Dự kiến, tổng nguồn vốn huy động đến 31/10/2019 đạt 74.150 tỷ đồng, tăng 7,44% so với cuối năm 2018. Trong đó, tiền gửi các tổ chức kinh tế đạt 28.070 tỷ đồng, giảm 0,63% so với cuối năm 2018, chiếm tỷ trọng 38,86% trên tổng nguồn vốn huy động; tiền gửi tiết kiệm là 45.180 tỷ đồng, tăng 12,85% so với cuối năm 2018, chiếm tỷ trọng 60,93% trên tổng nguồn vốn huy động.

Hoạt động tín dụng cũng duy trì mức tăng trưởng ổn định, tổng dư nợ cho vay dự kiến đến 31/10/2019 đạt 75.000 tỷ đồng, tăng 11,51% so với cuối năm 2018. Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 49.000 tỷ đồng, tăng 14,9%; dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt 26.000 tỷ đồng, tăng 5,62% so với cuối năm 2018. Nợ xấu toàn địa bàn đến hết tháng Mười năm 2019 ước là 740 tỷ đồng, chiếm tỉ lệ 0,99% trên tổng dư nợ.

5.3. Bảo hiểm

Tính đến tháng 10/2019, toàn tỉnh có 1.023,389 nghìn người tham gia đóng bảo hiểm các loại. Trong đó, Bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc là 200,7 nghìn  người, bảo hiểm y tế là 1.018,286 nghìn người. Kết quả thu BHXH trong tháng Mười ước đạt 410 tỷ đồng, lũy kế đến hết tháng mười đạt 3.729,3 tỷ, tăng 442,1 tỷ đồng so với cùng kỳ và đạt 83,3% so với kế hoạch giao.

Bảo hiểm Xã hội tỉnh đã tập trung chỉ đạo có hiệu quả việc thực hiện các chế độ, chính sách BHXH qua đó rút ngắn thời gian giải quyết và tạo thuận lợi cho người thụ hưởng chế độ BHXH. Trong tháng, đã thực hiện chi đúng, chi đủ, kịp thời cho các đối tượng thụ hưởng chế độ BHXH, BHYT với tổng số tiền là 352 tỷ đồng; phối hợp với ngành Bưu điện chi trả đúng, đủ lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng cho người thụ hưởng chính sách trên địa bàn tỉnh.

6. Một số vấn đề xã hội

- Hoạt động văn hóa: Tháng Mười, hoạt động văn hóa thông tin tập trung tuyên truyền về các ngày kỷ niệm, ngày lễ lớn, các nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong tháng. Nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức như: Ngày Quốc tế Người cao tuổi 1-10, Ngày Doanh nhân Việt  Nam 13-10, Ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam 20-10,..  Ngày 17/10 Ban Vận động “Ngày vì người nghèo” tỉnh tổ chức Lễ phát động toàn dân ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” năm 2019, kêu gọi các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang, các tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp, các nhà hảo tâm và các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc, tôn giáo trong tỉnh phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, tích cực hưởng ứng phong trào đi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”.

- Về giáo dục:  Đến nay giáo dục phổ thông các cấp của năm học 2019-2020 đã ổn định, đi vào nề nếp và đã tiến hành tổ chức kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh thời điểm giữa kỳ I của năm học. Các khoản đóng góp đầu năm học theo đúng quy định, công khai, minh bạch, đảm bảo không để việc thu các khoản đóng góp đầu năm học bị biến tướng thành lạm thu, gây bức xúc dư luận. Công tác ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy được chú trọng thực hiện; năm học 2019-2020, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh đã đầu tư 60 phòng tin học - ngoại ngữ cho 41 trường tiểu học và 19 trường THCS, 66 phòng ngoại ngữ chuyên dụng cho 66 trường tiểu học, 50 phòng tin học cho 43 trường THCS và 7 trường THPT với tổng kinh phí gần 100 tỷ đồng. Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin đã giúp giáo viên và học sinh phát triển tư duy nhiều chiều, góp phần không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục.

- Công tác y tế:  Trong tháng, ngành Y tế tiếp tục chỉ đạo các đơn vị chức năng chú trọng phòng chống các dịch bệnh phát sinh theo mùa như: Sốt xuất huyết, Tay- Chân- Miệng, Sởi... Đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra các dịch bệnh lớn trên địa bàn; duy trì tốt việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Đến thời điểm này, trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra. Bên cạnh đó, tăng cường y tế cơ sở, tiếp tục nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh phục vụ nhân dân, giảm quá tải bệnh viện, đáp ứng sự hài lòng của người bệnh.

Tình hình an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP): Công tác tuyên truyền phổ biến Luật An toàn thực phẩm, truyền thông phổ biến kiến thức về an toàn vệ sinh thực phẩm được thực hiện thường xuyên. Sở Y tế tỉnh đã tổ chức phối hợp liên ngành trong công tác thanh kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống. Tính đến ngày 15/10/2019, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào.

Công tác phòng chống HIV/AIDS tiếp tục được đẩy mạnh, đặc biệt chú trọng đến việc thông tin, truyền thông về các hoạt động tư vấn, chăm sóc, điều trị người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS; phối hợp liên ngành chặt chẽ trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh. Tính đến ngày 30/9/2019, lũy tích có 4.387 người nhiễm HIV (số người nhiễm HIV có hộ khẩu tại tỉnh là 2.264 người); lũy tích số người chuyển AIDS là 2.290 người (số có hộ khẩu tại tỉnh là 1.497 người); lũy tích số người tử vong do AIDS là 1.005 người (807 trường hợp có hộ khẩu tại tỉnh). Số bệnh nhân đang nhận thuốc điều trị ARV là 901 bệnh nhân (26 trẻ em).

7. Tình hình an ninh trật tự và phòng, chống cháy nổ

- Tình hình trật tự an toàn xã hội: Trong tháng 10/2019, tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội nhìn chung ổn định. Lực lượng Công an triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm, các vụ phạm tội về trật tự xã hội, các vụ trọng án nhanh chóng được điều tra, làm rõ. Công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc phát huy hiệu quả.

- Tình hình tai nạn giao thông: Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, từ ngày 16/9/2019 đến ngày 15/10/2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 05 vụ tai nạn giao thông, làm 03 người chết, 04 người bị thương, nâng tổng số vụ tai nạn giao thông trong mười tháng đầu năm lên 33 vụ, làm 30 người chết, 24 người bị thương. Qua tuần tra, kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông các lực lượng chức năng đã lập biên bản, ra quyết định xử phạt 3.449 trường hợp vi phạm, nộp vào Kho bạc Nhà nước trên 1,7 tỷ đồng.

- Tình hình cháy nổ: Trong kỳ, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, 01 vụ ở bãi tập kết phế liệu của hộ dân cư thuộc huyện Vĩnh Tường, 01 vụ cháy khu vực bếp của hộ dân cư huyện Lập Thạch. Lũy kế từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 24 vụ cháy, ước tính giá trị thiệt hại 26,35 tỷ đồng./.

Thang Thu Hiền
Chuyên viên Phòng Tổng hợp Quy hoạch

Các tin đã đưa ngày:
Số lượt truy cập :