Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2019

27/09/2019

Chín tháng đầu năm 2019, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã đạt được kết quả khá so cùng kỳ và so kế hoạch. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP - giá so sánh 2010) ước tăng 8,63% so cùng kỳ năm 2018, trong đó: ngành công nghiệp và xây dựng tăng 12,85%; các ngành dịch vụ tăng 6,98%; ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 2,20%. Các lĩnh vực văn hóa, an sinh xã hội được quan tâm, quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Kết quả cụ thể các ngành, lĩnh vực như sau:

Kết quả một số ngành, lĩnh vực chủ yếu như sau:

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

- Trồng trọt: Thời tiết từ đầu vụ Mùa đến nay tương đối thuận lợi không có mưa to gây ngập, úng, công tác phòng trừ sâu hại được các cơ quan chức năng quan tâm, người dân chủ động thực hiện nên các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Ước tính kết quả sản xuất vụ Mùa 2019 như sau:

Diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh đạt 32.284 ha, giảm 3,39% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích trồng lúa đạt 23.921 ha, giảm 6,49%; diện tích ngô đạt 1.640 ha, giảm 6,45%; diện tích cây có hạt chứa dầu 678 ha, tăng 5,03%; rau các loại 2.382 ha, tăng 15,99%. Diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm hơn so với cùng kỳ nguyên nhân do một số diện tích đất trũng thường xuyên bị ngập không thể canh tác được, mặt khác hiệu quả kinh tế do sản xuất nông nghiệp đem lại không cao nên bà con bỏ ruộng, chuyển sang làm các ngành nghề phi nông nghiệp cho thu nhập cao hơn. Ước tính năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu: lúa đạt 52,32 tạ/ha, giảm 0,93% so với cùng kỳ, sản lượng đạt 125.160 tấn, giảm 7,35%; ngô đạt 46,76 tạ/ha, tăng 0,74%, sản lượng đạt 7.667 tấn, giảm 5,76%; rau các loại đạt 207,04 tạ/ha, tăng 3,42%, sản lượng đạt 49.320 tấn, tăng 19,96% so với cùng kỳ...

- Chăn nuôi: Quý III và 9 tháng đầu năm, tình hình chăn nuôi gia cầm trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển tốt, không có dịch bệnh lớn nào xảy ra. Mặc dù những tháng đầu năm giá một số sản phẩm gia cầm như thịt hơi, trứng hơi xuống quá thấp đã gây ra không ít khó khăn cho người chăn nuôi nhưng từ tháng Sáu trở lại đây, giá các sản phẩm này đã tăng trở lại và duy trì ở mức khá cao, thị trường tiêu thụ tốt nên người dân yên tâm, tập trung đầu tư phát triển sản xuất. Chăn nuôi lợn vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn do bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) tuy đã có chiều hướng giảm dần nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát trở lại do vậy tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát xử lý ổ dịch ngay từ khi mới xuất hiện, nhằm khoanh vùng, tiêu diệt nhanh vi-rút tồn tại, lưu hành trong trang trại bằng thuốc khử trùng theo hướng dẫn của cơ quan thú y; kiểm soát chặt việc vận chuyển, kinh doanh, buôn bán lợn, sản phẩm từ lợn trên thị trường, bảo đảm rõ nguồn gốc xuất xứ, an toàn vệ sinh thực phẩm; hướng dẫn người chăn nuôi xây dựng các cơ sở chăn nuôi an toàn sinh học, chuỗi sản xuất thịt lợn an toàn dịch bệnh; không lơ là, chủ quan, nhất là đối với các xã chưa có dịch, các xã có dịch nhưng đã qua 30 ngày chưa phát sinh ổ dịch mới và các xã đã công bố hết dịch.

Số lượng đàn gia súc, gia cầm tại thời điểm 01/9/2019 như sau: Đàn trâu có 17.827 con, giảm 1,54% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò 108.302 con, giảm 2,98%, trong đó có 12.500 con bò sữa, tăng 8,58%; đàn lợn (không kể lợn con theo mẹ) 471.054 con, giảm 25,40%; đàn gia cầm 11.046 nghìn con, tăng 5,35% so với cùng thời điểm năm 2018. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 91.206 tấn, giảm 7,15%. Trong đó, thịt lợn 60.630 tấn, giảm 11,89% so với cùng kỳ.

- Lâm nghiệp: Chín tháng đầu năm, tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định, các đơn vị sản xuất lâm nghiệp đã làm tốt công tác chuẩn bị hiện trường, chủ động chuẩn bị cây giống và các điều kiện cần thiết nên đã cơ bản hoàn thành kế hoạch trồng rừng được giao. Diện tích rừng trồng mới tập trung  chín tháng ước đạt 690 ha, đạt 98,5% kế hoạch năm và tăng 1,47% so với cùng kỳ, riêng quý III trồng mới được 240 ha, tăng 2,6%, diện tích rừng trồng được chăm sóc đạt 2.340 ha, diện tích rừng được giao khoán, bảo vệ đạt 9.631 ha, số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.530 nghìn cây, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2018. Sản lượng gỗ khai thác chín tháng đầu năm ước đạt 29.387 m3, tăng 3,55% so với cùng kỳ; sản lượng củi khai thác 39.982 Ste, tăng 1,47%. Riêng trong quý III, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 11.229 m3, tăng 3,72%; sản lượng củi đạt 12.662 Ste, tăng 0,89% so với cùng kỳ. Công tác phòng, chống cháy rừng luôn được các cấp, các ngành chỉ đạo sát sao, nguy cơ cháy rừng thường xuyên được cảnh báo, các chủ rừng và người dân chủ động thực hiện nên từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không có vụ cháy rừng nào xảy ra.

- Thủy sản: Sản xuất thủy sản chín tháng đầu năm phát triển khá, công tác phòng, chống dịch bệnh cho thủy sản được người dân quan tâm thực hiện đồng bộ với nhiều giải pháp hiệu quả nên từ đầu năm đến nay không có dịch bệnh xảy ra. Diện tích nuôi trồng thủy sản chín tháng đầu năm ước đạt 6.823 ha, tăng 0,13% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản đạt 16.540 tấn, tăng 4,78% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng khai thác đạt 1.525 tấn, giảm 1,63%; sản lượng nuôi trồng đạt 15.015 tấn, tăng 5,48% so với cùng kỳ năm trước.

2. Sản xuất công nghiệp

2.1. Chỉ số sản xuất

Tháng 9/2019, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9/2019 ước tăng 13,42% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó ngành khai khoáng giảm 2,82%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,34%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 16,41%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 28,33%.

Tính chung chín tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 11,96% so với cùng kỳ (quý I tăng 11,94%, quý II tăng 10,34%, quý III tăng 13,41%), thấp hơn mức tăng 15,75% của cùng kỳ năm 2018 nhưng cao hơn mức tăng 4,02% và 10,62% của cùng kỳ năm 2016 và năm 2017. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ chốt, là động lực thúc đẩy tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp với mức tăng 11,95%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 15,30%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,28%; riêng ngành khai khoáng giảm 4,69%.

2.2. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Hầu hết sản lượng sản phẩm công nghiệp chủ yếu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 9/2019 dự kiến đều có mức tăng khá so với tháng trước và so với cùng kỳ. Tính chung chín tháng đầu năm 2019, ngoài sản lượng ô tô giảm 5,10%, xe máy giảm 13,53% và quần áo các loại giảm 2,8%, các nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu còn lại của tỉnh đều có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2018: Giày thể thao đạt 5.510 nghìn đôi, tăng 29,32%; gạch ốp lát 111.962 nghìn m2, tăng 21,75%; máy điều hòa không khí 19.763 cái, tăng 35,86%; điện thương phẩm 4.512 triệu kwh, tăng 15,3%; nước uống được 19.243 nghìn m3, tăng 15,49%...

2.3. Chỉ số sử dụng lao động

Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng Chín tăng 0,85% so với tháng trước và giảm 0,69% so với cùng kỳ. Tính chung chín tháng đầu năm chỉ số tăng 0,37% so với cùng kỳ; trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 5,98%, doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 6,19%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 0,79%.

2.4. Chỉ số tiêu thụ, tồn kho

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2019 2019 giảm 4,17% so với tháng trước và giảm 10,84% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng đầu năm, nhiều ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao như: ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 39,89%; ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 25,92%; ngành sản xuất kim loại tăng 24,93%; ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim tăng 21,92%... Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: ngành sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 15,89%; ngành sản xuất xe có động cơ giảm 6,76%... Các ngành còn lại có biến động nhẹ.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 9/2019 tăng 4,57% so với tháng trước và tăng 47,32% so cùng kỳ năm trước. Hầu hết các ngành đều có chỉ số tồn kho tăng cao so cùng kỳ; trong đó, ngành sản xuất xe có động cơ tăng 45,37%; ngành sản xuất trang phục tăng 82,73%; ngành sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 148,72%...

3. Thương mại, dịch vụ và giá cả

3.1.Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng:

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Chín ước đạt 4.430 tỷ đồng, tăng 10,41% so với cùng kỳ. Tính chung chín tháng đầu năm dự kiến đạt 38.165,7 tỷ đồng, tăng 9,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Chín đạt 3.812,2 tỷ đồng, tăng 2,72% so với tháng trước, tăng 10,37% so với cùng kỳ năm trước và tăng ở hầu hết các nhóm hàng. Tính chung 9 tháng đầu năm, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 32.816 tỷ đồng, tăng 9,39% so với cùng kỳ năm trước do mạng lưới phân phối hàng hóa của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh được tăng cường và mở rộng. Các hoạt động kích cầu tiêu dùng như giảm giá, khuyến mãi liên tục được đưa ra nhằm thu hút người dân, tăng sức mua của thị trường. Trong 12 nhóm ngành hàng, chỉ có nhóm hàng ô tô con (dưới 9 chỗ) giảm nhẹ so với cùng kỳ giảm 0,19%, các nhóm hàng còn lại đều tăng ở mức khá như: Nhóm hàng phương tiện đi lại (trừ ô tô con) tăng 14,77%; hàng may mặc tăng 11,92%; nhóm vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 11,90%; hàng lương thực, thực phẩm tăng 10,75% so với cùng kỳ...

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng Chín ước đạt 356,4 tỷ đồng tăng 9,94% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng đầu năm ước đạt 3.073,6 tỷ đồng, tăng 9,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 264,58 tỷ đồng, tăng 9,08%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 2.731 tỷ đồng, tăng 9,85%; doanh thu du lịch, lữ hành đạt 78,04 tỷ đồng, tăng 9,79% so với cùng kỳ năm trước. Đời sống xã hội ngày một nâng lên, nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch, ăn uống của người dân tăng cao. Nhiều hệ thống khách sạn, nhà hàng tiêu chuẩn quốc tế 4 sao, 5 sao đã được khai trương và đi vào hoạt động đáp ứng các dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí của người dân.

- Doanh thu các ngành dịch vụ khác tháng Chín ước đạt 261,4 tỷ đồng tăng 2,09% so với tháng trước và tăng 11,60% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế chín tháng đầu năm ước đạt 2.276,1 tỷ đồng, tăng 9,86% so với cùng kỳ năm trước.

3.2. Vận tải hành khách và hàng hoá

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 31 doanh nghiệp tham gia kinh doanh vận tải hành khách bằng xe ô tô theo tuyến cố định, với tổng số 192 xe đang khai thác; 432 xe hợp đồng thuộc 07 hợp tác xã, 41 doanh nghiệp và 251 hộ kinh doanh và 4.063 xe taxi. Vận tải hàng hóa có 6.040 xe thuộc 17 hợp tác xã, 428 doanh nghiệp, 1.090 hộ kinh doanh. Với mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, ngành Giao thông đã áp dụng các cơ chế, chính sách tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thu hút các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh vận tải, khuyến khích phát triển vận tải hành khách công cộng, vận tải hàng hóa phục vụ tốt nhu cầu của người dân cũng như phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.

Tổng doanh thu vận tải tháng Chín ước đạt 387,2 tỷ đồng, tăng 2,23% sơ với tháng trước và tăng 10,42% so với cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 85,8 tỷ đồng, tăng 10,61%; vận tải hàng hóa đạt 290,9 tỷ đồng, tăng 10,28% so với tháng trước. Tính chung chín tháng đầu năm, doanh thu vận tải ước đạt 3.298,4 tỷ đồng, tăng 10,04% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.470,3 tỷ đồng, tăng 10,23%; doanh thu vận tải hành khách đạt 734,9 tỷ đồng, tăng 8,39% so với cùng kỳ năm trước.

4. Một số vấn đề xã hội

- Hoạt động văn hóa, thể thao: Chín tháng đầu năm, tỉnh đã tổ chức thành công nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật, vui chơi giải trí chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước và của địa phương như: Biểu diễn văn nghệ đón chào năm mới; khai hội báo Xuân và triển lãm sách báo mùa Xuân; biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhân dân các xã miền núi và phục vụ các lễ hội; tổ chức các hoạt động triển lãm thư pháp, tặng chữ đầu xuân; tổ chức Liên hoan hát Văn, hát Chầu văn tỉnh Vĩnh Phúc mở rộng; chào mừng kỷ niệm 129 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; kỷ niệm 74 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; tổ chức công bố Tháp gốm men chùa Trò là Bảo vật Quốc gia và khai mạc trưng bày chuyên đề “Di sản văn hóa thời Lý - Trần trên đất Vĩnh Phúc”; Liên hoan Tiếng hát thanh niên dân tộc thiểu số, tín đồ tôn giáo năm 2019; tổ chức 60 buổi chiếu phim phục vụ nhiệm vụ chính trị; 135 buổi chiếu phục vụ miền núi; 69 buổi chiếu phục vụ nông thôn, thu hút khoảng 24.000 lượt khán giả; tham gia Hội nghị Điện Ảnh các tỉnh phía Bắc tại Điện Biên...

Phong trào thể dục thể thao diễn ra sôi động với nhiều giải thi đấu thể thao được tổ chức thành công như: Giải thể thao Mừng Đảng - Mừng Xuân Kỷ Hợi 2019; giải Bóng chuyền Tây Thiên năm 2019; ngày chạy Olympic Vì sức khỏe toàn dân năm 2019; giải Cầu lông Gia đình; giải vô địch cúp các câu lạc bộ Bóng chuyền hơi toàn tỉnh; Giải vô địch đẩy gậy toàn quốc lần thứ XIII và giải vô địch kéo co toàn quốc năm 2019; giải vô địch bóng chuyền hơi tỉnh Vĩnh Phúc... Chín tháng đầu năm 2019, các đội thể thao của tỉnh đã tham gia 41 giải thi đấu và đạt được 186 huy chương, gồm: 25 Huy chương thi đấu Quốc tế và khu vực (12 Huy chương Vàng, 08 Huy chương Bạc, 05 Huy chương Đồng),161 huy chương các giải trong nước (50 Huy chương Vàng, 49 Huy chương Bạc, 62 Huy chương Đồng), gấp 02 lần tổng số huy chương đạt được cùng kỳ năm 2018.

- Về giáo dục:  Phát huy những thành tích đã đạt, năm học 2019-2020, ngành Giáo dục và đào tạo tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI; tiếp tục thực hiện tốt 9 nhiệm vụ trọng tâm và 5 nhóm giải pháp cơ bản mà Bộ GD&ĐT đã đề ra. Năm học 2019-2020, hệ thống giáo dục công lập trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng gần 30 vạn học sinh các khối theo học. Trong đó, học sinh mầm non là trên 73.000 em, tiểu học là trên 112.200 em, THCS là gần 75.000 em và THPT là trên 30.500 em. Toàn tỉnh hiện có 507 trường công lập trong đó mầm non là 167 trường, tiểu học: 153 trường, THCS: 137 trường, tiểu học và THCS là: 11 trường; THPT: 31 trường; giáo dục thường xuyên: 8 trung tâm.

- Công tác y tế: Chín tháng đầu năm, ngành Y tế luôn chủ động theo dõi, giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, chỉ đạo các bệnh viện, cơ sở khám, chữa bệnh thực hiện nghiêm túc quy trình kỹ thuật chuyên môn từ khâu đón tiếp người bệnh, làm hồ sơ bệnh án, chuẩn đoán, theo dõi, tiên lượng và điều trị. Chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh đã từng bước được cải thiện ở cả 3 tuyến, việc ứng dụng một số kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị tiếp tục được triển khai. Dự án chăm sóc sức khỏe sinh sản và cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi được thực hiện thường xuyên, có 100% phụ nữ mang thai được quản lý chăm sóc thai nghén và khám thai 3 lần trở lên trong thai kỳ, các bà mẹ có con dưới 5 tuổi thường xuyên được tư vấn về cách phòng chống suy dinh dưỡng và nuôi trẻ khỏe mạnh. Chương trình dân số, kế hoạch hóa gia đình được thực hiện tốt nhằm kiểm soát tốc độ tăng dân số, nâng cao chất lượng dân số, hạ thấp chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra bệnh dịch lớn, chỉ xuất hiện rải rác các bệnh như: sốt xuất huyết; cúm; tiêu chảy; tay- chân - miệng; thủy đậu...

Tình hình an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP): Công tác tuyên truyền phổ biến Luật An toàn thực phẩm, truyền thông phổ biến kiến thức về an toàn vệ sinh thực phẩm được thực hiện thường xuyên. Công tác thanh, kiểm tra các cơ sở về công tác ATVSTP được tăng cường, tính đến cuối tháng Chín, các ngành chức năng đã thanh, kiểm tra được 4.725 lượt cơ sở về ATVSTP, số cơ sở đạt tiêu chuẩn là 4.111, đạt tỷ lệ 87,0%; 614 cơ sở không đạt, chiếm 13,0%. Đoàn kiểm tra đã xử lý các cơ sở vi phạm các nội dung về an toàn vệ sinh thực phẩm theo đúng quy định của pháp luật. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào.

Công tác phòng chống HIV/AIDS: Công tác phòng, chống HIV, AIDS được truyền thông rộng rãi góp phần nâng cao nhận thức về phòng chống HIV, AIDS trong cộng đồng; an toàn trong truyền máu được chú trọng tại các cơ sở y tế có phẫu thuật và truyền máu. Số người nhiễm HIV mới phát hiện trong 9 tháng là 95 người, trong đó số người thuộc tỉnh Vĩnh Phúc là 40 người giảm 16 người so với cùng kỳ. Lũy tích có 4.383 người nhiễm HIV (trong đó, số người nhiễm HIV có hộ khẩu tại tỉnh là 2.124 người), lũy tích số người chuyển AIDS là 2.292 người (số có hộ khẩu tại tỉnh là 1.499 người), lũy tích số người tử vong do AIDS là 1.005 người (807 trường hợp có hộ khẩu tại tỉnh).

5. Tình hình an ninh trật tự và phòng, chống cháy nổ

- Tình hình trật tự an toàn xã hội: Trong kỳ, tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội nhìn chung ổn định. Lực lượng Công an triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm, các vụ phạm tội về trật tự xã hội, các vụ trọng án nhanh chóng được điều tra, làm rõ. Công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc phát huy hiệu quả.

- Tình hình tai nạn giao thông: Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, tính đến ngày 15/9/2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 28 vụ tai nạn giao thông, 27 người chết và bị thương 20 người, tăng 02 vụ, tăng 05 người chết và tăng 01 người bị thương so cùng kỳ năm 2018. Qua tuần tra, kiểm soát, lực lượng công an tỉnh đã lập biên bản, ra quyết định xử phạt 4.920 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông, thu trên 2,1 tỷ đồng nộp ngân sách Nhà nước.

- Tình hình cháy nổ: Lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy Công an tỉnh đã mở đợt cao điểm về công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; bảo đảm an ninh, trật tự; tổ chức rà soát, xây dựng các ph¬ương án xử lý tình huống cháy; thực hiện tốt công tác thường trực sẵn sàng chiến đấu về cả lực lượng và phương tiện để cứu chữa kịp thời, hiệu quả các vụ cháy, nổ xảy ra; yêu cầu các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đóng trên địa bàn kiểm tra các phương tiện, dụng cụ chữa cháy tại chỗ, thiết bị báo cháy, lối thoát nạn, thoát hiểm, đảm bảo an toàn về người và tài sản khi có sự cố xảy ra. Tổ chức tuyên truyền, khuyến cáo nhân dân nâng cao tinh thần tự giác, cảnh giác, đề phòng cháy, nổ. Chín tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 22 vụ cháy, thiệt hại do cháy trên 26 tỷ đồng./.

Thang Thu Hiền
Chuyên viên Phòng Tổng hợp Quy hoạch

Các tin đã đưa ngày:
Số lượt truy cập :