Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 tỉnh Vĩnh Phúc

26/12/2017

I. Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2017

Tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 trong điều kiện nền kinh tế cả nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức… Song với sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung của Tỉnh ủy, sự điều hành quyết liệt của UBND tỉnh và sự cố gắng nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân trên địa bàn tỉnh nên kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục chuyển biến tích cực với tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP - giá so sánh 2010) ước tăng 7,68% so với năm 2016. Kết quả cụ thể như sau:

Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản gặp nhiều khó khăn từ đầu năm do khủng hoảng thừa đối với ngành chăn nuôi lợn, diễn biến thời tiết không thuận lợi,… Tuy vậy, so với cùng kỳ năm 2016 kết quả đạt được rất tích cực với sản lượng lương thực có hạt đạt 386 ngàn tấn, tăng 6,79%; sản lượng thủy sản ước đạt 20,2 ngàn tấn, tăng 3,99%,.... Giá trị tăng thêm (theo giá so sánh năm 2010) ước tăng 3,48%, đóng góp 0,23 điểm % vào tăng trưởng chung của tỉnh. Năng suất lúa ước đạt 55,3 tạ/ha, tăng 9,64%; cây ngô đạt 43,3 tạ/ha, tăng 4,05%; quy mô đàn bò ước tăng 3,63%, đàn gia cầm tăng 2,15%, đàn trâu giảm 5,83%, đàn lợn (không tính lợn sữa) giảm 4,79%. Đã trồng 650,9 ha rừng tập trung tăng 10,17% so với năm 2016 và đạt 108,5% kế hoạch.

Sản xuất công nghiệp công nghiệp và xây dựng: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với sản lượng ô tô giảm mạnh; tuy nhiên sản xuất sản phẩm linh kiện điện tử tăng cao, trở thành 1 trong 3 sản phẩm chủ lực của tỉnh với giá trị tăng thêm tương đương tỷ trọng của ngành sản xuất ô tô; sản lượng xe máy ghi nhận tăng trở lại sau nhiều năm sụt giảm. Sản lượng các sản phẩm công nghiệp chủ yếu so với cùng kỳ năm 2016: Xe máy các loại ước tăng 5,06%; gạch ốp lát ước tăng 8,59%; quần áo các loại ước tăng 2,4%; linh kiện điện tử ước tăng 62,23%... Riêng sản lượng xe ô tô giảm 20,5%, thức ăn chăn nuôi giảm 5,9%. Tổng giá trị tăng thêm (giá so sánh 2010) ngành sản xuất công nghiệp ước tăng 10,14% so với năm 2016, đóng góp 4,49 điểm % vào tăng trưởng chung của tỉnh. Hoạt động của ngành xây dựng tăng trưởng khá, ước tăng 10,17% so với năm 2016, đóng góp 0,35 điểm % vào tăng trưởng chung của tỉnh.

Các lĩnh vực dịch vụ: Các hoạt động kinh doanh thương mại diễn ra sôi động, hàng hóa trên thị trường phong phú, đa dạng đáp ứng tốt nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Giá trị tăng thêm (giá so sánh 2010) ước tăng 8,28% so năm 2016, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 40,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ. Tổng doanh thu Vận tải và dịch vụ kho bãi ước đạt 3,7 nghìn tỷ đồng, tăng 8,18%; dịch vụ TT&TT (gồm cả sản xuất công nghiệp điện tử và CNTT) ước đạt 41,8 nghìn tỷ đồng, tăng 4,3 lần so với năm 2016.

Hoạt động du lịch đón hơn 4,2 triệu lượt khách; tổng doanh thu du lịch đạt 1,42 nghìn tỷ đồng, tăng 18,33%. Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt trên 2,0 tỷ USD, tăng 13,55% với các sản phẩm: Chè tăng 18%; hàng dệt may tăng 15%; đệm ghế ô tô tăng 13,33%; hàng điện tử tăng 6,89%;...; Kim ngạch nhập khẩu đạt 2,66 tỷ USD, tăng 4,21%, chủ yếu là vải may mặc, linh kiện điện tử, Ô tô các loại và cả linh kiện phụ kiện đồng bộ,...Dịch vụ vận tải tăng khá (giá trị khoảng 3,7 ngàn tỷ đồng, tăng 8,18% so với năm 2016). Dịch vụ tín dụng ngân hàng có cơ cấu tăng trưởng tín dụng hợp lý, tập trung chủ yếu vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và đầu tư phát triển (chiếm 90% tổng dư nợ). Tổng vốn huy động ước đạt 59,86 nghìn tỷ đồng, tăng 22,3% so với cuối năm 2016. Dư nợ tín dụng đạt 53,48 nghìn tỷ đồng, tăng 26,54% so với cuối năm 2016.

Công tác quản lý nhà nước về đầu tư công: Thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2017 và xây dựng kế hoạch đầu tư công năm 2018, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện như đã ban hành chỉ thị 09/CT-UBND về đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư công năm 2017; Ban hành Quyết định số 08/2017/QĐ-UBND quy định trình tự, thủ tục các dự án đầu tư công trên địa bàn với thời gian thực hiện thủ tục rút ngắn từ 30-40% theo quy định; Chỉ đạo các cấp các ngành đẩy mạnh các biện pháp xử lý nợ đọng XDCB; Kịp thời chỉ đạo điều chỉnh kế hoạch đầu tư công nhằm phù hợp với tình hình thu ngân sách năm 2017. Kết quả kế hoạch đầu tư công năm 2017 đã được triển khai tích cực, ước cả năm giải ngân được 7,434 nghìn tỷ đồng, đạt 98% kế hoạch vốn được giao.

Thu, chi ngân sách nhà nước: Do sự thay đổi về chính sách thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc và linh kiện đồng bộ nên thu ngân sách từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh, tổng thu ngân sách cả năm 2017 (không bao gồm thu chuyển nguồn) ước đạt 25,37 nghìn tỷ đồng, đạt 75% dự toán và bằng 77% so với thực hiện năm 2016 (riêng thu nội địa đạt 22 nghìn tỷ đồng, đạt 71,6% dự toán năm 2017). Các khoản chi ngân sách được quản lý và thực hiện tiết kiệm triệt để, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ chi của tỉnh.

Hoạt động xúc tiến và thu hút đầu tư, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp được triển khai tích cực. UBND tỉnh đã có nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm cụ thể hóa các Nghị quyết số 19, 35 của Chính phủ và Nghị quyết số 01 của Tỉnh ủy; tổ chức các cuộc xúc tiến đầu tư tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Nga, Italia, Đức, Ấn Độ, Nam Phi, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất,... Ước năm 2017, toàn tỉnh thu hút mới được 78 dự án gồm 38 dự án DDI và 40 dự án FDI, trong đó vốn DDI thu hút mới là 2,4 nghìn tỷ đồng, đạt 40% kế hoạch  và bằng 11,84% so với năm 2016; Vốn FDI thu hút mới là 85 triệu USD, đạt 38,64% kế hoạch và bằng 30,9% so với năm 2016.

Giáo dục và đào tạo được quan tâm, thực hiện quyết liệt và sâu rộng, kết quả: kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 có 98,8% học sinh tốt nghiệp THPT Quốc gia (trong đó: THPT đạt 99,9%; GDTX đạt 97,1%). Đầu tư cơ sở vật chất trường học được quan tâm, trong đó đã đầu tư 504 phòng học, tu sửa nâng cấp 150 phòng học, nâng tỷ lệ phòng học kiên cố bậc mầm non từ 74,8% lên 79%; cơ bản xử lý xong nợ xây dựng cơ bản trường học theo Nghị quyết 204/NQ-HĐND của HĐND tỉnh. Quyết liệt chỉ đạo, đầu tư để cơ bản các trường Mầm non, Tiểu học đạt chuẩn quốc gia trước năm 2018 theo Nghị quyết của BCH Đảng bộ tỉnh.

Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân: Công tác khám, chữa bệnh được tiếp tục cải thiện ở cả 3 tuyến; thuốc, vật tư y tế được cung ứng đầy đủ, kịp thời, có chất lượng, giá cả hợp lý. Công tác phòng, chống dịch bệnh được theo dõi, giám sát thường xuyên, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân các biện pháp phòng, chống bệnh dịch, vận động nhân dân chủ động tiêm phòng các loại vắc xin phòng bệnh, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, do đó trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra. Tiến độ đầu tư xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh và Bệnh viện Sản-Nhi; cải tạo nâng cấp các trạm y tế cấp xã; hoàn thiện cơ sở vật chất các Trung tâm y tế cấp huyện được chỉ đạo thực hiện khẩn trương.

Hoạt động văn hoá thông tin, thể thao, phát thanh và truyền hình: Đã ký kết giao ước thi đua cụm thi đua ngành văn hóa, thể thao và du lịch các tỉnh đồng bằng sông Hồng; tổ chức thành công ngày chạy Olympic “Vì sức khỏe toàn dân”; tổ chức Đại hội thể dục thể thao cấp cơ sở; tham gia thi đấu 40 giải quốc gia và quốc tế, trong đó đạt 70 huy chương vàng. Hoạt động các cơ quan báo chí, bản tin, trang thông tin điện tử, đài truyền thanh huyện, xã,... trên địa bàn tỉnh đã bám sát định hướng và làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền các chủ đề trọng tâm; xuất bản nhiều ấn phẩm được quan tâm, cải thiện cả về hình thức và nội dung đáp ứng tốt nhiệm vụ chính trị của tỉnh và góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân.

Công tác dạy nghề, giải quyết việc làm, an sinh xã hội được quan tâm thường xuyên: tổ chức 48 phiên giao dịch việc làm, đã tuyển tại sàn 3.860 lao động (tăng 01 phiên và tăng 1.466 lao động so với năm 2016). Ước cả năm toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 25,3 nghìn lao động (đạt 110% so với kế hoạch), trong đó xuất khẩu lao động 1,976 nghìn người đạt 98,8% kế hoạch. Các chế độ chính sách ưu đãi đối với người có công được thực hiện đúng, đầy đủ, kịp thời theo quy định của Đảng và Nhà nước. Hoạt động bảo trợ xã hội, giảm nghèo, chăm sóc và bảo vệ trẻ em được đặc biệt chú trọng. Các chế độ BHXH, BHYT được giải quyết kịp thời.

Tình hình quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn ổn định. UBND tỉnh chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện nghiêm túc các Chỉ thị của Bộ Quốc phòng, của Quân khu II về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu. Tổ chức giao, nhận quân năm 2017 nhanh, gọn, trang trọng, an toàn, đảm bảo 100% quân số. Tổ chức thành công cuộc diễn tập khu vực phòng thủ tại thị xã Phúc Yên và huyện Tam Đảo. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc tiếp tục được củng cố. Công tác phòng ngừa, tấn công trấn áp tội phạm về tệ nạn xã hội được đẩy mạnh. Việc giải tỏa vi phạm hành lang an toàn giao thông, lập lại trật tự an toàn giao thông; kiểm soát tải trọng phương tiện; rà soát, bổ sung lắp đặt hệ thống biển báo; đẩy mạnh tuần tra kiểm soát… được lực lượng chức năng triển khai hiệu quả, do đó trật tự an toàn giao thông được đảm bảo. Công tác phòng cháy chữa cháy và cứu hộ cứu nạn được triển khai thực hiện quyết liệt.

II. Kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2018

Mục tiêu tổng quát: Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội bền vững. Nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng kết hợp hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu. Tập trung vốn đầu tư kết cấu hạ tầng đô thị Vĩnh Phúc. Tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư. Tiếp tục tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với chuyển đổi lao động nông thôn. Đẩy mạnh chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới. Kiểm soát và hạn chế ô nhiễm môi trường. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thực hiện tốt các mục tiêu an sinh, phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tăng cường quốc phòng, an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Năm 2018 xác định là năm: “Tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng đô thị Vĩnh Phúc; đẩy mạnh thu hút đầu tư; phát triển dịch vụ du lịch”.

Một số chỉ tiêu chủ yếu:

- Về phát triển kinh tế: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP-giá SS 2010), phấn đấu tăng khoảng 7,5-8,0% so năm 2017. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 10-12% so với năm 2017. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn phấn đấu đạt 29,64 nghìn tỷ đồng, trong đó thu nội địa đạt 26,69 nghìn tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 30 nghìn tỷ đồng, chiếm 33-34% GRDP. Phấn đấu thu hút 250 triệu USD vốn FDI và 2.500 tỷ đồng vốn DDI.

- Về xã hội: Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều) phấn đấu giảm khoảng 0,5-1% so với năm 2017. Giải quyết việc làm mới cho khoảng 22 - 23 nghìn lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 72%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng: cân nặng theo tuổi còn <9,5%, chiều cao theo tuổi  < 15%. Số bác sỹ/vạn dân: 10,7 bác sỹ/vạn dân. Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế: 84,9%

- Về môi trường: Tỷ lệ che phủ rừng đạt 24,1%. Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực đô thị đạt 90%, khu vực nông thôn đạt 70%. Tỷ lệ hộ dân đô thị được cấp nước sạch đạt khoảng 84%, hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 94%.

Nhiệm vụ & giải pháp chủ yếu năm 2018:

Tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển: Thực hiện tốt Kế hoạch, Chương trình hành động của tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế”. Thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp; mở rộng diện tích sử dụng giống lúa chất lượng cao; ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để thâm canh tăng năng suất. Xây dựng mô hình cánh đồng mẫu lớn, sản xuất rau quả an toàn theo VietGAP, các mô hình phát triển trang trại, khu chăn nuôi tập trung quy mô lớn. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Chương trình giảm nghèo bền vững. Triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tiếp tục cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Ban hành nghị quyết của HĐND tỉnh về một số cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tập thể. Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, nhất là thu hút vốn FDI. Chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, nhất là giải phóng mặt bằng các khu công nghiệp, các dự án lớn, các công trình, dự án trọng điểm, các công trình kết cấu hạ tầng khung đô thị.

Tăng cường quản lý thu chi ngân sách, tập trung nguồn vốn đầu tư phát triển để xây dựng hạ tầng đô thị Vĩnh Phúc: Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh các biện pháp tăng cường quản lý thu ngân sách nhà nước trên tất cả các lĩnh vực. Tổ chức triển khai thực hiện tốt Luật NSNN, các Luật thuế sửa đổi, bổ sung và nhiệm vụ thu NSNN theo Nghị quyết của Quốc hội. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý nợ đọng thuế, bảo đảm thu đúng, đủ, kịp thời các khoản thuế, phí, lệ phí vào NSNN. Kiểm soát chặt chẽ nợ công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, chỉ tập trung cho các công trình, dự án trọng điểm, thực sự có hiệu quả, đảm bảo khả năng cân đối nguồn trả nợ. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Luật Đầu tư công và các văn bản hướng dẫn thi hành. Từng bước cụ thể hóa Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 20/10/2017 của Tỉnh ủy về đầu tư tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2025.

Phát triển hiệu quả văn hóa, xã hội, chăm lo đời sống người dân: Đẩy mạnh phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và liên thông giữa các chương trình giáo dục, cấp học và trình độ đào tạo. Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất trường lớp học và trang thiết bị cho các cấp học từ bậc học mầm non đến THCS theo chuẩn quốc gia. Sắp xếp lại mạng lưới các trường THPT trên địa bàn tỉnh,… Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản và phát thanh, truyền hình. Nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới y tế cơ sở, y tế dự phòng, chủ động phòng, chống dịch bệnh, không để các dịch bệnh lớn xảy ra. Nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh; Phát triển y tế ngoài công lập, hình thành các cơ sở khám, chữa bệnh theo hình thức hợp tác công tư và mô hình quản lý bệnh viện như doanh nghiệp công ích. Tập trung đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh và Bệnh viện Sản - Nhi.

Tiếp tục phát triển khoa học công nghệ, tăng cường quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu: Triển khai có hiệu quả các chương trình quốc gia về khoa học và công nghệ theo hướng gắn kết chặt chẽ với sự phát triển của ngành/lĩnh vực. Tăng cường giám sát, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Lập Kế hoạch sử dụng đất hàng năm 2018 đảm bảo đúng thời gian quy định; hoàn thành thí điểm dồn thửa đổi ruộng và đề xuất kế hoạch triển khai tiếp theo; tập trung giải quyết đất dịch vụ để chi trả cho nhân dân; kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về đất đai, khai thác khoáng sản, tăng cường công tác đấu giá quyền sử dụng đất để tăng nguồn thu cho ngân sách,…

Xây dựng nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, kỷ luật, kỷ cương; đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí: Tăng cường công tác kiểm tra công vụ, đảm bảo thực hiện Quy chế làm việc, quy trình công tác và sự chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên; thực hiện các thủ tục hành chính; thực hiện quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục triển khai có hiệu quả Kế hoạch, Đề án của tỉnh về việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2021. Thanh tra, kiểm tra các vấn đề được dư luận quan tâm liên quan đến tham nhũng, lãng phí, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định, không để phát sinh thành điểm nóng; tập trung xử lý dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài; không để xảy ra tình trạng gây bức xúc cho nhân dân.

Tăng cường quốc phòng, an ninh; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội: Tiếp tục xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc gắn chặt với thế trận an ninh nhân dân. Hoàn thành chỉ tiêu tuyển gọi thanh niên nhập ngũ năm 2018. Nắm chắc tình hình diễn biến về an ninh chính trị trên địa bàn; đảm bảo môi trường an ninh ổn định, không để xảy ra các “điểm nóng” phức tạp về an ninh nông thôn, tôn giáo, trật tự các khu công nghiệp, đô thị... Thường xuyên mở các đợt cao điểm, tấn công, trấn áp tội phạm, tệ nạn xã hội. Thực hiện có hiệu quả công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ.

Làm tốt công tác dân vận, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội trong vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, góp phần tạo đồng thuận xã hội trong việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2018 đã đề ra./.

Nguyễn Thế Anh
Chuyên viên phòng Tổng hợp

Các tin đã đưa ngày:
Số lượt truy cập :